Tổng đài khám bệnh từ xa 19006161
Thời gian làm việc từ 7h đến 20h tất cả các ngày trong tuần
VN EN
Ung thư bàng quang
Tin tức & Sự kiện

Ung thư bàng quang

Ung thư bàng quang

Ung thư bàng quang

( Ngày đăng : 19/05/2012)

Ung thư bàng quang là ung thư đường tiết niệu thường gặp nhất. Loại ung thư này thường bắt đầu từ bề mặt của bàng quang – cơ quan có hình quả bóng nhỏ trong khung chậu nơi chứa đựng nước tiểu. Trên 90% ung thư xuất phát từ tế bào chuyển tiếp còn gọi là ung thư biểu mô chuyển tiếp. Còn lại có khoảng 8% là ung thư biểu mô vảy.

Ai là người dễ mắc?

Mặc dù các nhà khoa học chưa biết chắc chắn nguyên nhân gây ung thư bàng quang, nhưng đây không phải là bệnh lây nhiễm .

Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được một số yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển của bệnh, do bản thân các yếu tố đó hoặc kết hợp với các yếu tố khác.

Các yếu tố nguy cơ đó là:

– Tuổi:

Những người cao tuổi dễ bị ung thư bàng quang hơn so với những người trẻ, bệnh rất ít gặp ở tuổi dưới 40.

– Thuốc lá:

Người ta cho rằng thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính gây ung thư bàng quang.

Nguy cơ bị ung thư bàng quang ở người hút thuốc lá cao gấp 2-3 lần so với người không hút.

– Nghề nghiệp:

Một số công nhân có nguy cơ cao bị ung thư bàng quang vì tiếp xúc với các yếu tố sinh ung thư như cao su, chất hóa học, da thuộc.

Các công nhân như thợ làm đầu, thợ kim khí, thợ sơn, in, dệt, người lái xe tải cũng tăng nguy cơ bị căn bệnh này.

– Nhiễm trùng:

Những người bị nhiễm ký sinh trùng có nguy cơ mắc ung thư bàng quang cao.

Các bệnh do ký sinh trùng phổ biến hơn ở các nước nhiệt đới.

– Những người bị ung thư hoặc những bệnh khác mà phải điều trị bằng Cyclophosphamide hoặc Asenic có nguy cơ mắc ung thư bàng quang.

– Chủng tộc:

Người Mỹ da trắng có nguy cơ mắc ung thư bàng quang cao gấp 2 lần so với người Mỹ da đen và người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha.

Tỉ lệ mắc thấp nhất ở tộc người châu Á.

– Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới; tiền sử gia đình; tiền sử đã từng bị ung thư bàng quang có khả năng tái phát…

Nếu ai nghĩ rằng mình có các yếu tố liên quan tới ung thư bàng quang thì hãy nói với bác sĩ về mối liên quan này. Các bác sĩ có thể gợi ý cho bạn cách làm giảm các nguy cơ và có kế hoạch kiểm tra thích hợp

Dấu hiệu nhận biết

Ung thư bàng quang thường không có những dấu hiệu và triệu chứng khi ở giai đoạn sớm.

Dấu hiệu cảnh báo đầu tiên là thường có máu trong nước tiểu. Tuy nhiên, không có nghĩa là tất cả các trường hợp có máu trong nước tiểu đều bị ung thư bàng quang.

Khi có bất kỳ các dấu hiệu nào dưới đây, hãy đến bác sĩ khám để được chẩn đoán bệnh:

– Đi tiểu ra máu (nước tiểu có màu hồng nhạt đến đỏ thẫm).

– Đau khung chậu; đau trong khi đi tiểu.

– Đái dắt, muốn đi tiểu nhưng không đi được; đi tiểu thường xuyên hoặc cảm thấy cần đi tiểu mà không kiểm soát được.

– Dòng nước tiểu bị chậm lại.

Điều trị bằng cách nào?

Bệnh nhân hiểu biết về ung thư bàng quang chính là một yếu tố quan trọng trong việc điều trị bệnh.

Do đó bệnh nhân càng đưa ra được nhiều câu hỏi cho thầy thuốc thì càng có lợi.

Tuy nhiên, khi bệnh nhân biết mình bị mắc ung thư, họ sẽ bị sốc và sẽ chẳng biết cần phải hỏi bác sĩ điều gì.

Sự lo lắng chính là thủ phạm gây trở ngại đối với điều trị.

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị được lựa chọn đối với bệnh nhân mắc ung thư bàng quang như phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, sinh học.

Ở một số bệnh nhân, có thể phối hợp các phương pháp này.

Tuy nhiên để điều trị hiệu quả nhất phải xác định được loại ung thư và giai đoạn của bệnh; tuổi tác và sức khỏe chung của bệnh nhân.

Phẫu thuật:

Là phương pháp điều trị thường được áp dụng đối với ung thư bàng quang.

Việc lựa chọn phương pháp này phụ thuộc vào giai đoạn và độ lớn của khối u.

Nếu khối u còn nhỏ và ở giai đoạn sớm, có thể phẫu thuật cắt bỏ khối u qua nội soi, sau đó bệnh nhân có thể được điều trị tiếp bằng hóa chất hoặc sinh học.

Phẫu thuật cắt bỏ một phần bàng quang được áp dụng với khối u có sự xâm lấn chỉ ở một vùng của bàng quang.

Nếu khối u đã lan rộng trên bề mặt bàng quang hoặc bị xâm lấn thì phải cắt bỏ toàn bộ bàng quang, nạo vét hạch lympho gần đó. Thậm chí phải cắt cả các cơ quan gần đó như tuyến tiền liệt, túi tinh, ống dẫn tinh (ở nam giới), tử cung, buồng trứng, vòi trứng, một phần của âm đạo (với nữ giới)… nếu có tế bào ung thư xâm lấn.

Điều trị bằng tia xạ:

Đây là phương pháp điều trị trong đó người ta sử dụng những tia có năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Giống như phẫu thuật, xạ trị là phương pháp điều trị tại chỗ do đó chỉ có tác dụng diệt các tế bào ung thư tại vùng chiếu xạ.

Một số bệnh nhân có thể được điều trị bằng tia xạ trước khi phẫu thuật với mục đích thu nhỏ bớt thể tích của khối u làm cho việc phẫu thuật sau đó dễ dàng hơn.

Còn một số bệnh nhân được điều trị bằng tia xạ sau phẫu thuật để tiêu diệt nốt các tế bào ung thư còn sót lại.

Ngoài ra, xạ trị cũng được chỉ định đối với bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật.

Trong điều trị ung thư bàng quang, tia xạ có thể từ bên ngoài cơ thể (xạ ngoài) hoặc từ các chất phóng xạ được đặt trực tiếp vào trong bàng quang (xạ trong).

Xạ ngoài thường được thực hiện trong điều trị ngoại trú, 5 ngày 1 tuần trong vòng 5 đến 7 tuần.

Bệnh nhân có thể thấy mệt mỏi trong suốt quá trình xạ trị, đặc biệt là những tuần điều trị cuối.

Xạ ngoài có thể gây cháy da vùng chiếu xạ.

Bệnh nhân thường bị rụng lông, da đỏ khô, nứt và ngứa.

Xạ trong có thể gây buồn nôn, nôn, tiêu chảy, rối loạn tiểu tiện…

Xạ trị còn gây giảm bạch cầu, do đó cơ thể bệnh nhân rất dễ bị nhiễm trùng.

Điều trị tia xạ đối với ung thư bàng quang còn gây ảnh hưởng đến sinh hoạt tình dục ở cả nam và nữ giới.

Phụ nữ có thể bị khô âm đạo, còn nam giới không đạt được trạng thái cương cứng.

Mặc dù các tác dụng phụ của xạ trị có thể làm cho bệnh nhân lo lắng, nhưng nó chỉ mang tính tạm thời và bác sĩ có thể kiểm soát được.

Điều trị hóa chất:

phương pháp này là dùng các thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Có thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều loại thuốc trong quá trình điều trị.

Phương pháp này có thể được điều trị sau phẫu thuật để phá hủy những tế bào ung thư còn sót lại.

Tác dụng phụ của hóa chất phụ thuộc vào loại thuốc và liều lượng, đường đưa thuốc vào cơ thể cũng như cách thức điều trị.

Các tác dụng phụ của phương pháp này là rụng tóc, buồn nôn, nôn và mệt mỏi.

Sử dụng hóa chất toàn thân còn khiến số lượng tế bào bạch cầu và hồng cầu giảm khiến bệnh nhân dễ bị nhiễm khuẩn và xuất huyết.

Tác dụng phụ nguy hiểm nữa của hóa chất là gây suy thận.

Do đó bệnh nhân cần được bác sĩ theo dõi trong suốt quá trình điều trị và sau đó.

Điều trị sinh học:

Đây là phương pháp điều trị trong đó sử dụng những khả năng tự nhiên của cơ thể (hệ thống miễn dịch) để chống lại tế bào ung thư.

Phương pháp này được áp dụng sau phẫu thuật lấy khối u qua đường niệu đạo đối với u ở bề mặt bàng quang, có tác dụng ngăn cản sự phát triển trở lại của các tế bào ung thư.

Phương pháp này có thể gây kích ứng bàng quang khiến bệnh nhân có cảm giác mót đái, đái dắt, đau khi đi tiểu.

Ngoài ra bệnh nhân còn cảm thấy mỏi mệt, buồn nôn, đái ra máu, sốt nhẹ hoặc ớn lạnh.

Phòng bệnh

Mặc dù ung thư thường không phòng tránh được, tuy nhiên, chúng ta có thể can thiệp vào các yếu tố nguy cơ như: Không hút thuốc; cẩn thận với các hóa chất và nguồn nước nhiễm hóa chất;

Uống nhiều nước trong mỗi ngày để thải lọc những chất độc có trong nước tiểu;

Khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm các vấn đề về sức khỏe; ăn nhiều rau cải xanh…

Các dịch vụ chính mà chúng tôi đang cung cấp:

  • Điều dưỡng và chăm sóc tại nhà
  • Khám bệnh qua điện thoại
  • Dịch vụ khám chữa bệnh tại nhà
  • Dịch vụ lấy máu tại nhà
  • Xét nghiệm máu tại nhà
Về trang trước Gửi email
Các bài viết khác

HAPPY BIRTHDAY FDC

09/07/2024
24/06/2024 - ngày mà FDC bước sang một tuổi mới và cuộc hành trình phát triển vẫn cứ tiếp diễn mỗi ngày.

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA RỐI LOẠN MỠ MÁU

12/06/2024
CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA RỐI LOẠN MỠ MÁU

CHỈ SỐ LDL-CHOLESTEROL CAO – NGUY CƠ BỆNH LÝ TIM MẠCH LỚN

12/06/2024
Bệnh tim mạch là một trong các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, cũng như tại Việt Nam.
Hotline Zalo Facebook Messenger